29/06/2015 - 16:31

Quê hương của những nhạc sĩ tài tử Nam Bộ tài hoa

Có nhiều nguyên do để Long An trở thành một trong những chiếc nôi của nhạc tài tử Nam bộ, nhưng có điều chắc chắn rằng bởi nơi đây đã sản sinh ra nhiều thế hệ nhạc sĩ tài hoa, góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển của bộ môn này.


Đình Vạn Phước (xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước), nơi lưu niệm nhạc sư Nguyễn Quang Đại, liên hoan đờn ca tài tử Nam Bộ hàng năm ở khu vực và tôn vinh nghệ nhân dân gian ở Long An về nhạc tài tử

Do điều kiện khoa học kỹ thuật của buổi đầu hình thành dòng nhạc tài tử Nam Bộ, chúng ta không có điều kiện thưởng thức tiếng đàn của những tên tuổi tài danh thuộc thế hệ do nhạc sư Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại) về Cần Đước, Cần Giuộc truyền dạy như: Chín Láo, Sáu Thoàn, Chín Chiêu, Năm Tịnh, cô Sáu Giỏi, cô Bảy Lung, ông Xã Năm, Hai Bầu, Năm Khiết, Năm Xem (ông ngọai cố nhạc sĩ Hai Biểu), Ba Đống, Mười Hai Duơn, Năm Quýnh,... rồi nối tiếp sau đó như Chín Kỳ, Hai Phát, Hai Biểu, Tư Huyện, Sáu Quý, Bảy Hàm, Bảy Quế, Năm Giai, Mười Lăng, Tư Bi, Út Nghiêm, Hai Khá, Tám Nhứt, Tư Tụi, Ba Lựa,... Dù vậy, qua tài liệu và những câu lưu truyền trong giới nhạc tài tử, cải lương, như:

“Tiếng đồn Cần Đước xuân xanh
Giai kìm, Quýnh gáo, Quế tranh, Lòng cò” ,

hay “Nhứt Bạc Liêu, nhì Cần Đước”, ít nhiều phản ánh tài năng của thế hệ này. Nhứt nhì ở đây không là ai giỏi hơn ai về bộ môn này, mà nói về ca, sáng tác là Bạc Liêu, về đờn thì là Cần Đước.

Ở Tân An, lần đầu tiên, nhạc sĩ Lê Văn Tiếng (Thủ Thừa) thu thập phần nhạc và Trần Phong Sắc (Tân An) soạn phần lời cho ra đời tác phẩm sách Cầm ca tân điệu - một sưu tập gần như đầy đủ các bài bản đờn và lời ca cổ cho đến lúc bấy giờ. Tác giả của bản Dạ cổ hoài lang, tiền thân của bài vọng cổ ngày nay là một người quê Thuận Mỹ, Châu Thành - Nhạc sĩ Cao Văn Lầu.

Khi âm nhạc phương Tây du nhập vào Việt Nam, nhạc sỹ Mười Còn (Cần Đước) là người đi tiên phong trong việc sử dụng đàn violon vào cổ nhạc trong những năm 30 của thế kỷ trước; nhạc sỹ Ác-măng Thiều (Tân Trụ) cũng là người đầu tiên sử dụng nhạc khí guita vào cổ nhạc.

Sự phát triển của kỹ thuật thu âm giúp giới mộ điệu ngày nay có điều kiện hơn để thưởng thức tài năng của nhạc sĩ tài danh sau này. Thật thiếu sót và phiến diện khi không thể giới thiệu một cách đầy đủ những tài năng đã đóng góp vào sự hình thành và phát triển của bộ môn này nhưng có lẽ trong giới nhạc tài tử không ai không thừa nhận tầm ảnh hưởng và sức lan tỏa của tài năng nhạc sĩ Tư Huyện, nhạc sĩ Hai Biểu và nhạc sĩ đương đại là Ba Tu.

Nhạc sĩ Tư Huyện tên thật là Nguyễn Thế Huyện, sinh năm 1911 tại xã Phước Lâm, huyện Cần Giuộc, trong một gia đình đúng nghĩa là “gia đình tài tử” khi cha ông là nhạc sĩ Bảy Tho có 5 người con đều theo nghề nhạc lễ, nhạc tài tử và tất cả đều hàng tài danh. Đó là nhạc sĩ Hai Phát, Ba Quang, Năm Phú rất giỏi về bộ gõ nhạc lễ và các lọai nhạc khí khác. Đặc biệt, nhạc sĩ Sáu Quý có ngón đàn tranh được đánh giá đương thời ít ai sánh kịp.

Giới tài tử truyền rằng, thập niên 30-40 của thế kỷ trước, Nam bộ có rất nhiều nhạc sĩ đàn tranh như Mười Tân, Sáu Hóa, Sáu Tý, Năm Tồn, bảy Phải (Cần Thơ), Năm Nghĩa (Trà Ôn), Sáu Ngươn, Bảy Yên (Sa Đéc), Ba Hạt (Cao Lãnh), Mười Lăng (Cần Đước),... nhưng hình như nhạc sỹ Sáu Quý ở đẳng cấp khác. Tiếc rằng ông mất sớm khi mới 28 tuổi.

Riêng nhạc sĩ Tư Huyện, từ thời niên thiếu đã nổi danh với khả năng sử dụng hầu hết các lọai nhạc khí gõ, hơi, nhạc khí dây (cả kéo và khảy), đặc biệt sở trường là violon. Ông được đánh giá là tài năng đặc biệt trong một thế kỷ qua với phong cách diễn tấu đầy phong cách, ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều nhạc sĩ đương thời và sau này, trong đó có nhiều nhạc sĩ được học trực tiếp hoặc gián tiếp như Văn Vĩ, Ba Tu, Huỳnh Khải,... Ông có thời gian giảng dạy tại trường Quốc gia âm nhạc, nay là Nhạc viện, từ năm 1976 làm nòng cốt cho âm nhạc sân khấu của Nhà hát Trần Hữu Trang. Ngón đờn của ông còn được truyền lại trong nhiều băng đĩa được ghi âm vào những năm 1960, 1970, 1980. Nhạc sĩ Tư Huyện qua đời năm 1982, để lại trong lòng đồng nghiệp và các thế hệ kế thừa sự tiếc nuối về một tài năng đỉnh cao trong nghệ thuật diễn tấu của âm nhạc tài tử, nhạc lễ Nam Bộ.

Nhạc sĩ Hai Biểu tên thật là Huỳnh Văn Biểu, sinh năm 1912 tại xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, từ nhỏ sớm bộc lộ năng khiếu âm nhạc, học qua nhiều thầy có thuộc thế hệ học trò của Nguyễn Quang Đại, rồi tham gia dàn nhạc gánh hát bộ Huỳnh Ngọc Ban (Năm Thơ), đoàn Phụng Hảo. Ông diễn tấu thành thạo các loại nhạc khí, nhưng trội nhất là đàn tranh với kỹ thuật rung, nhấn làm hiện lên một nét nghệ thuật tinh tế, quyến rũ.

Từ thập niên 60, ông được mời vào giảng dạy ngành Quốc nhạc, Trường quốc gia âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn (nay là Nhạc viện TPHCM). Từ sau 1975, ông tham gia họat động âm nhạc tài tử, phong trào đàn ca tài tử ở Cần Đước, Long An. Nhạc sĩ Hai Biểu được xem là một trong những nhạc sĩ tài danh nhất về họat động âm nhạc tài tử Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XX. Ông mất năm 1980 tại TPHCM.

Nhạc sĩ Ba Tu tên thật là Trương Văn Tự, sinh năm 1938 ở ấp Rạch Bọng, xã Tân Lân, huyện Cần Đước. Ông sử dụng nhiều nhạc cụ nhưng sở trường là cây đờn kìm. Ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong các tổ chức phục hồi và phát triển nền cổ nhạc Việt Nam tại TPHCM và dạy tại trường Nghệ thuật Sân khấu Điện ảnh thành phố. Là một nhạc sĩ được đánh giá là tài năng đỉnh cao trong nghệ thuật diễn tấu của âm nhạc tài tử, nhạc lễ Nam Bộ hiện nay. Tinh hoa của người nhạc sĩ được mệnh danh là “đệ nhất nguyệt cầm này ” hiện nay này được để lại trong rất nhiều chương trình hòa tấu, độc tấu ở các đài phát thanh truyền hình, băng đĩa, đặc biệt là bộ đĩa độc tấu 20 bản tổ bằng đờn kìm do Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Long An tổ chức thu âm có thể được xem là một công trình độc nhất vô nhị từ trước đến nay về âm nhạc tài tử Nam bộ.

Đó là những con người không những góp phần truyền bá và phát triển bộ môn đàn ca tài tử ở Long An, tạo nên phong trào yêu thích nhạc ta khắp Nam nộ, mà còn là nền móng cho thế hệ tài danh hôm nay như Huỳnh Khải, Tấn Khoa, Út Bù (Nguyễn Văn Út),... và còn nhiều người khác nữa để họ tiếp tục phát huy, đóng góp vào gia sản dòng nhạc tài tử Nam bộ ngày càng đồ sộ, phong phú và lan tỏa, xứng đáng với vị trí của nó trong đời sống tinh thần của người Nam bộ.
Vùng đất của 2 con sông Vàm Cỏ hiền hòa và thơ mộng đã nuôi dưỡng tâm hồn, hun đúc nên những tài năng âm nhạc tài tử Nam Bộ và chính những tài năng ấy đã làm nên một phần hình ảnh Long An giàu truyền thống văn hóa.

Đến nay, Long An có 14 nghệ nhân đờn ca tài tử được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam truy tặng, phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian là: Nguyễn Quang Đại, Nguyễn Thế Huyện (Tư Huyện), Huỳnh Văn Biểu (Hai Biểu), Trương Văn Tự (Ba Tu), Phạm Hữu Hinh (Mười Út), Nguyễn Văn Quế (Bảy Quế), Võ Văn Chuẩn (Tư Bền), Trà Văn Giai (Năm Giai), Nguyễn Văn Láo (Chín Láo), Trương Văn Đệ (Bảy Hàm), Nguyễn Thới Lung (Năm Lung), Đặng Quất Vân (Bảy Vân), Lê Thị Kim Hồng (NS Ánh Hồng) và Nguyễn Tấn Khoa (Tấn Khoa). Hiện tỉnh đang lập hồ sơ đề nghị Bộ VH, TT và DL phong tặng danh hiệu nghệ nhân nhân dân và nghệ nhân ưu tú cho một số nhạc sỹ tài tủ trên.

Nguyễn Tấn Quốc

Chia sẻ bài viết