Tiếng Việt | English

20/07/2016 - 11:20

62 năm Ngày ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (20/7/1954 - 20/7/2016)

Thắng lợi vẻ vang của nền ngoại giao cách mạng

Cách đây 62 năm, sau 75 ngày thương lượng với 31 phiên họp, trong đó có 8 phiên toàn thể và 23 phiên họp cấp trưởng đoàn cùng nhiều cuộc gặp gỡ, tiếp xúc song phương và đa phương bên lề Hội nghị Giơ-ne-vơ, ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết. Các bên tham gia ra “Tuyên bố cuối cùng” đánh dấu thành công của hội nghị và cũng là sự ghi nhận thắng lợi 9 năm kháng chiến trường kỳ của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược. Thắng lợi trong việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam là thắng lợi vẻ vang của nền ngoại giao cách mạng non trẻ của nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Hiệp định Giơ-ne-vơ là sự xác nhận trên phạm vi quốc tế sự thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, công nhận độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Ảnh tư liệu

Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương được tiến hành từ ngày 8-5 đến ngày 21-7-1954 và diễn ra không chỉ giữa 2 đối thủ trực tiếp là Việt Nam và Pháp như hồi năm 1946 mà có sự tham gia của các nước lớn. Vì thế, trên bình diện ngoại giao, vấn đề Đông Dương được quốc tế hóa. Hội nghị diễn ra trong bối cảnh cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam giành được nhiều chiến thắng vang dội mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ.

Tình hình thế giới có nhiều biến đổi lớn trong không khí chiến tranh lạnh giữa 2 phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia là mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - khai sinh một quốc gia độc lập, có chủ quyền, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, thực dân Pháp không chịu công nhận sự thật đó, luôn tìm mọi cách quay trở lại tái chiếm Đông Dương.

Năm 1946, cuộc đàm phán gay go giữa đại diện Pháp và Việt Nam đi đến Hiệp định Sơ bộ mới chỉ dừng lại ở thỏa thuận nước Pháp công nhận Việt Nam là một “quốc gia tự do”. Để né tránh 2 chữ “độc lập”, Pháp chấp nhận chữ “tự do” và ràng buộc Việt Nam trong 2 cơ cấu thuộc Pháp là Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp. Thấy rõ âm mưu của đối phương, Đảng ta vận dụng sách lược “hòa để tiến”, nhằm chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, Việt Nam tham gia Hội nghị Giơ-ne-vơ với nhiều khó khăn, thách thức, bởi trước hết, đây là hội nghị quốc tế do các nước lớn sắp đặt, quyết định kịch bản và kết cục; các nước đều lấy lợi ích quốc gia của mình để chỉ đạo phương hướng ngoại giao.

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia đàm phán như một khách mời của “bên có liên quan”, chứ không phải tham gia một cách chủ động trong cuộc đàm phán song phương. Pháp vừa là bên tham chiến, vừa là nước lớn, và quan trọng hơn, từ khía cạnh lịch sử lại là đế quốc thực dân nhiều kinh nghiệm và thủ đoạn ngoại giao. Việt Nam lần đầu tiên tham dự một hội nghị quốc tế, một vũ đài chính trị - ngoại giao rộng lớn. Trong giai đoạn này, Việt Nam đang tiến hành chiến tranh chống thực dân Pháp, lãnh thổ đang bị chia cắt, kinh tế đất nước đang gặp nhiều khó khăn, còn phải dựa vào sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc, nền ngoại giao còn non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong đàm phán.

Tuy nhiên, tại hội nghị này, ngoại giao Việt Nam với điểm tựa là thắng lợi quân sự trên chiến trường, đặc biệt là chiến thắng Điện Biên Phủ, để tìm cách chấm dứt cuộc chiến tranh một cách có lợi nhất và vào thời điểm thuận lợi nhất cho đất nước, đồng thời phát huy tác động và ý nghĩa quốc tế của thắng lợi trên chiến trường. Hội nghị Giơ-ne-vơ là một cuộc đấu tranh ngoại giao gay go và phức tạp, cuộc đấu trí ngoại giao đầu tiên của chúng ta với đồng thời nhiều nền ngoại giao lớn trên thế giới. Đoàn đại biểu Việt Nam tại hội nghị tỏ rõ bản lĩnh của những người có chính nghĩa, luôn kiên trì và tỉnh táo, tự chủ và linh hoạt, chủ động tấn công và đề cao thiện chí, chính nghĩa để bảo vệ lợi ích của đất nước.

Với Hội nghị Giơ-ne-vơ, ngoại giao Việt Nam chính thức bước ra với thế giới ngoại giao đa phương và ngoại giao Việt Nam như được chắp thêm cánh, tiếp thêm lực để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân tin tưởng giao phó. Hội nghị Giơ-ne-vơ làm cho vai trò của Việt Nam nổi bật trên diễn đàn quốc tế và xác lập vị thế quốc tế của Việt Nam. Kết quả cuối cùng của cuộc đấu tranh ngoại giao ấy là Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào và Campuchia ký ngày 21-7-1954 và Tuyên bố của hội nghị tạo thành khung pháp lý của Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương, đồng thời cũng là những văn kiện pháp lý quốc tế đa phương đầu tiên của nước ta.

Tính đến nay, Hiệp định Giơ-ne-vơ đi vào lịch sử 62 năm. Việc nhìn nhận lại những thành công, hạn chế, cho phép ta rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu làm hành trang cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Đó là, thắng lợi ở Hội nghị Giơ-ne-vơ là thắng lợi trong cuộc đấu tranh ngoại giao bằng việc quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng, bằng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, bằng nội lực của dân tộc và sự khôn khéo tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ trên thế giới để có bước phá sự bao vây quốc tế nhằm tạo ra kết quả thuận lợi. Đó là, cần tạo cục diện đánh - đàm mà trước tiên là từ thắng lợi ở chiến trường, nhưng ngoại giao cũng rất quan trọng, làm cho thế giới thấy rõ cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, tác động vào nội bộ đối phương nhằm kiềm chế kẻ thù và tạo áp lực kéo địch xuống thang.

Trong đấu tranh ngoại giao, cần thiết phải nắm chắc được tương quan lực lượng, sự tính toán của các nước lớn để đánh giá đúng tình hình, tìm ra đối sách phù hợp trong từng thời gian, cho từng vấn đề, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Từ đó, đặt ra lộ trình đấu tranh để giành thắng từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn, điều này liên quan đến công tác dự báo. Đồng thời, phải tăng cường thực lực của đất nước, phát huy nội lực, tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động đối ngoại,...

Trên cơ sở thắng lợi và bài học lịch sử về Hội nghị Giơ-ne-vơ 1954, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; xuất phát từ tình hình, nhiệm vụ cách mạng, yêu cầu cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, Đảng ta chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN...". Về mục tiêu đối ngoại: “Bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực hiện nay, không cho phép chúng ta tách mình biệt lập với cộng đồng thế giới, mà phải chủ động tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, chủ động khai thác những thuận lợi từ bên ngoài, dựa vào những tập hợp lực lượng có lợi, hạn chế những tác động tiêu cực. Quá trình đó được kết hợp chặt chẽ với yêu cầu tăng cường tiềm lực quốc phòng-an ninh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Thông qua hội nhập quốc tế, khu vực các nước ASEAN nhằm tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Long An là 1 trong 13 tỉnh, thành của miền Tây Nam bộ, cửa ngõ từ TP.HCM đi các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long; là 1 trong 8 tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có đường biên giới dài 133km tiếp giáp với 2 tỉnh Svay Rieng, Prey Veng của Vương quốc Campuchia. Các lực lượng đối lập ở Campuchia thường dùng chiêu bài biên giới lãnh thổ để kích động, mưu cầu các lợi ích riêng của họ trong quá trình tham gia chính trường. Campuchia là xã hội đa đảng, tình hình chính trị - xã hội rất phức tạp. Vì vậy, giải quyết vấn đề biên giới là công việc phức tạp. Chủ trương của Việt Nam nói chung và tỉnh Long An nói riêng là nhất quán và rõ ràng, tức là thông qua trao đổi, hợp tác với Campuchia, trên những cơ sở kết quả mà 2 nước đã đạt, phù hợp với thông lệ và thực tiễn, thúc đẩy những tiến bộ thực chất, kể cả về nhận thức cũng như trên thực địa, nhằm hướng tới xây dựng một khu vực biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác.

Chúng ta thực hiện nghiêm túc Hiệp định về quy chế biên giới và thỏa thuận cấp cao giữa 2 nhà nước, làm tốt công tác đối ngoại biên phòng, quan hệ với chính quyền, nhân dân và lực lượng bảo vệ biên giới của bạn với phương châm “giúp bạn là tự giúp mình”, thiết thực, hiệu quả và cũng linh hoạt chuyển từ phương châm giúp bạn sang “vừa giúp bạn, vừa hợp tác với bạn”, kiên quyết đấu tranh, phản bác các hành vi xuyên tạc, phá hoại kế hoạch, kết quả phân giới cắm mốc biên giới 2 nước của các thế lực thù địch, cực đoan. Các lực lượng vũ trang và nhân dân 2 tỉnh có trách nhiệm bảo vệ an toàn đường biên, cột mốc mà 2 nước xây dựng. Đồng thời, phối hợp với bạn ngăn chặn, triệt phá nhiều băng nhóm, tổ chức, đường dây tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm buôn bán, vận chuyển ma túy lớn vào Việt Nam. Từ đó, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định trên biên giới tỉnh Long An và xây dựng thế trận bảo vệ Tổ quốc từ xa.

Nhìn lại lịch sử, con đường đi đến chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam không phải là con đường thẳng tắp mà phải trải qua những chặng đường, khúc quanh lịch sử. Để hoàn thành trọng trách của mình, ngoại giao Việt Nam cần phát huy những kinh nghiệm quý báu mà lịch sử đã khắc ghi. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc nhưng sách lược của ta phải linh hoạt”.

Vì thế, trong quá trình đàm phán, nhà ngoại giao phải biết nhân nhượng đúng mức, không quá tả để phá vỡ đàm phán, không quá hữu để tổn hại đến lợi ích cơ bản của dân tộc. Nguyên tắc đó của Hội nghị Giơ-ne-vơ cho đến nay vẫn nguyên vẹn giá trị và có ý nghĩa thời sự: Không bao giờ vì một tình hữu nghị viển vông, mơ hồ nào mà nhân nhượng lợi ích cốt lõi của dân tộc, đó là chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của ta./.

Huỳnh Thị Thu Năm

Chia sẻ bài viết